Thời sơ khai hình thành của lưỡi lê

Dù Súng Điểm Hỏa Đá Lửa đã làm biến đổi diện mạo chiến tranh, nhưng nó vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Chẳng hạn như tốc độ bắn của súng bị kẹt bởi dư lượng thuốc khi bắn liên tục – tốc độ bắn chung của một khẩu súng hay bị kẹt là 2 đến 3 viên mỗi phút. Bởi vậy, lính bộ binh đặc biệt dễ gặp nguy hiểm trong quá trình nạp đạn lên nòng, nhất là trong một trận đột kích của kỵ binh hoặc bộ binh. Hơn nữa, khi giáp lá cà khả năng phòng thủ của chúng cũng bị hạn chế.

Vũ Khí - Lưỡi Lê

Dạng Cắm Và Dạng Ống 

Với tất cả những lý do trên, linh bắn súng sát cánh bên lính trường thương trong hàng thế kỷ, lính trường thương đảm nhiệm đồng thời vai trò bảo vệ và lá nhấn tố căn bản của một cuộc tấn công. Tuy vậy đến thế kỷ 17, mọi thứ đã thay đổi. Nhân tố mang tính cách mạng ở đây chính là lưỡi lê, một thiết bị tất yếu để hợp nhất lính bắn súng và lính trường thương thành một thể thống nhất vừa có khả năng nã đạn nhưng cũng có thể lao vào hàng ngũ địch với lưỡi thép sắc nhọn hoặc tự vệ trước kỵ binh địch.

Vũ Khí - Lưỡi Lê

Những lưỡi lê đầu tiên, được phát binh vào đầu khoảng năm 1650, chỉ là loại ( cắm thô sơ) phần lưỡi dài khoảng 30 cm, được cắm thẳng vào nòng súng theo đúng nghĩa đen. Lưỡi lê được gắn bằng một cán gỗ mảnh cắm vào trong nòng súng. Nhưng hiển nhiên, việc cấm lưỡi lê như vậy khiến súng không thể bắn được, vậy nên phải đi tìm biện pháp tốt hơn. Đột phá quan trọng chính là lê ống, được phát triển trong quân đội pháp những năm 1670. Trong trường hợp này, phần gắn lưỡi lê gồm một ống thép hở đầu, ống thép này trượt lồng vào nóng súng và được khóa vào vị trí một khe dích dắc đinh tán để chốt.

Vũ Khí - Lưỡi Lê

Lưỡi lê mỏng thường có hình tam giác chĩa ra từ ống nằm trên súng, hoàn toán không vướng víu gì tới nòng súng. Lưỡi lê ống nhanh chóng phổ biến trong các quân đội khắp châu Âu, thay thế trường thương và đêm lại cho bộ binh năng lực tấn công và tự vệ đầy đủ mà trước đó họ thiếu. Khi phòng vệ, chiến thuật tiêu chuẩn một hàng lính chĩa lưỡi lê trong khi hàng tiếp theo lên cò để bắn, các hàng liên tục hoán đổi vị trí cho nhau. Trong tấn công các đợt công kích bằng lưỡi lê trở thành khoảnh khắc chiến thuật quyết định, thời điểm những người lính giáp lá cà với kẻ địch và tìm mội cách để chiến thắng.

Lưỡi lê kiếm và lười lê dao

Vũ Khí - Lưỡi Lê

Tất nhiên thiết kế lưỡi lê cũng thay đổi. Vào thế kỷ 19, lưỡi lê kiếm xuất hiện song hàng với lưỡi lê ống. Đánh dấu sự ra đời của nó là lê kiếm Baker mẫu 1800 của Anh, dài 61 cm có thêm một chuôi kiếm với vòng bảo vệ ngón tay bằng đồng thau. Lê kiếm rất được ưa chuộng vào thế kỷ 19, nhưng do trọng lượng và chiều dài bất tiện khiến chúng phần lớn được dùng cho các nghi thức hay tháo ra dùng riêng. Bởi vậy, từ cuối thế kỷ, những lười lê dao, ngắn hơn nhiều xuất hiện, về cơ bản đó là dao găm được sử dụng làm lưỡi lê.

Vũ Khí - Lưỡi Lê

Những ví dụ đầu tiên về lưỡi lê dao là lưỡi lê của khẩu M1861 “Dahlgren”  của Mỹ và khẩu 1871/84 của Đức, nhưng dạng lê kiếm dài vẫn còn tồn tại tới tận thế kỷ 20 – chẳng hạn nhu lê kiếm Anh mẫu 1907 có phần lưỡi dài 43 cm và song hàng cung những khẩu súng trường Lee – Enfield qua thế chiến thứ nhất và bước vào thế chiến thứ 2. Tuy nhiên sự hoàn hảo của súng cầm tay đã làm giảm bớt tầm quan trọng của lưỡi lê.

Tagged

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*