Tìm hiểu vũ khí lạnh trên súng trường tấn công

Lưỡi lê thuộc nhóm vũ khí lạnh, bằng thép được lắp vào phía đầu nòng súng, sát thương đối phương bằng đâm khi đánh giáp lá cà.
Theo hình dáng có lưỡi lê hình dao nhọn có rãnh 2 bên để thoát máu; lưỡi lê hình múi khế nhọn có 3 hoặc 4 mặt lõm thoát máu. Theo phương thức lắp ráp có lưỡi lê lắp sẵn, giương lên khi sử dụng; lưỡi lê rời khi dùng mới lắp.

 

Cấu tạo lưỡi lê.

 

Các loại lưỡi lê dùng cho họ súng AK
Súng trường tấn công AK-47 của Liên Xô là loại vũ khí cá nhân được sử dụng rộng rãi nhất trong thế kỷ 20. Nhiều quốc gia đã được cấp phép sản xuất các biến thể khác nhau của AK-47 tại nước mình.
Đi kèm với súng, các phiên bản lưỡi lê do các quốc gia khác nhau sản xuất hầu như chỉ sai khác ở vài chi tiết nhỏ so với những phiên bản tiêu chuẩn sau đây:
Lưỡi lê AK-47 (kiểu 6X2)
Súng trường tấn công AK-47 được giới thiệu trong khoảng thời gian mà tương lai của việc sử dụng lưỡi lê đang được tranh luận gay gắt khi hầu hết các quốc gia đều đang sản xuất các loại súng bộ binh không có khả năng gắn lưỡi lê.
Không phải là ngoại lệ, AK-47 ban đầu cũng được sản xuất mà không có tai gắn lưỡi lê, do đó người Nga đã lựa chọn 1 loại lưỡi lê có thể gắn ngay vào súng mà không yêu cầu phải thiết kế lại.

 

 

 

Thiết kế cán lưỡi lê AK-47 vay mượn rất nhiều từ mẫu M1914 của Thụy Điển, một ví dụ khác của việc bất đắc dĩ gắn thêm lưỡi lê vào súng. Phần lưỡi dao được chế tạo theo khuôn của lưỡi lê M1940 sử dụng trên súng trường tự động Tokarev SVT–40. Mặc dù làm tốt chức năng của lưỡi lê nhưng việc bố trí vòng kép ở chuôi khiến cho lê 6X2 rất khó có thể sử dụng cho mục đích nào khác. Tại Việt Nam, loại lê này được gọi là lê lá lúa.
Lưỡi lê 6X2 của AK47 được sản xuất tại: Bulgaria, Trung Quốc, Đông Đức, Indonesia, Bắc Triều Tiên, Ba Lan và Nga.

 

 Lưỡi lê 6X2 trên AK-47.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 311mm, chiều dài lưỡi 200mm, đường kính vòng khâu 17,7mm.
Lưỡi lê AKM Type I (kiểu 6X3)
Biến thể súng trường tấn công AKM được giới thiệu vào năm 1959 đã được chế tạo có sẵn tai gắn lưỡi lê giúp nó có thể gắn thêm lưỡi lê một cách thuận lợi hơn nhiều.

 

 

 

Lưỡi lê mới có dạng dao găm được thiết kế với cán và chuôi bằng nhựa đúc liền khối, lưỡi dao làm bằng thép không gỉ có thêm răng cưa ở sống. Vỏ bao đựng lưỡi lê làm bằng thép phủ cao su cách điện, lỗ trên lưỡi dao có thể kết hợp với bao đựng thành kìm cắt dây. Một dây đeo cổ tay cũng được bổ sung cho tay cầm khi sử dụng lưỡi lê với vai trò một con dao chiến đấu. Đây được xem là thiết kế thực sự mang tính cách mạng và vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến tận ngày nay.
Lưỡi lê AKM Type I được sản xuất tại: Đông Đức, Hungary, Ba Lan, Romania và Nga.

 

 Lưỡi lê 6X3 trên AKM.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 279mm, chiều dài lưỡi 146mm, đường kính vòngkhâu 17,7mm.
Lưỡi lê AKM Type II (kiểu 6X4)
Phiên bản cải tiến của lưỡi lê AKM được giới thiệu vào giữa những năm 1960 với 2 thay đổi đáng kể. Một miếng thép gia cường đã được thêm vào chuôi, nơi mà những người lính có xu hướng sử dụng với vai trò như một cái búa. Sự thay đổi lớn thứ 2 là vỏ bao đựng lưỡi lê mới được làm bằng nhựa thay cho vỏ bao cũ được làm bằng thép phủ cao su cách điện. Lưỡi dao không có sự khác biệt với phiên bản trước.
Lưỡi lê AKM Type II được sản xuất ở Bulgaria, Trung Quốc, Iraq, Đông Đức, Nga, và Nam Tư. Các phiên bản khác được sản xuất bởi Ấn Độ và Việt Nam (được cho là phục vụ cho mục đích thương mại, không sử dụng trong quân sự).

 

 

 

 

 Lưỡi lê 6X4 trên AKM.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 270mm, chiều dài lưỡi 146mm, đường kính vòng khâu 17,7mm
Lưỡi lê AK-74 (kiểu 6X5)
Được giới thiệu năm 1983, lưỡi lê 6X5 của AK-74 đại diện cho sự phát triển xa hơn của họ lưỡi lê dùng cho súng AK. Sự tiến bộ của công nghệ chất dẻo thể hiện ở việc quay trở lại của cán nhựa đúc liền khối, không cần miếng thép gia cường ở chuôi như ở lưỡi lê AKM Type II. Trên cán có bổ sung 3 đường gân chống trượt, với cải tiến này dây đeo cổ tay trở nên không cần thiết và đã được loại bỏ. Lưỡi dao cũng là loại mới có kích thước lớn hơn 2 phiên bản dành cho AKM trước đó, vỏ bao đựng lưỡi lê tương tự như vỏ bao AKM Type II.
Lưỡi lê 6X5 của AK-74, theo một số nguồn tin, ngoài những nước thuộc Liên Xô cũ còn được sản xuất tại Bulgaria và có một lượng nhỏ được sản xuất để xuất khẩu cho Iraq.

 

 

 

 

  Lưỡi lê 6X5 trên AK-74.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 289mm, chiều dài lưỡi 159mm, đường kính vòng khâu 17,7mm
Lưỡi lê súng trường tấn công Type 56
Lưỡi lê 3 cạnh của súng trường tấn công Type 56 (phiên bản copy AK-47 của Trung Quốc) được gắn liền với súng, khi không ở trạng thái chiến đấu lưỡi lê được gấp gọn phía dưới ốp lót tay, khác biệt giữa lưỡi lê Type 56 với lưỡi lê súng trường SKS ở chỗ không có vòng khâu lê.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 298mm, chiều dài lưỡi 248mm.

 

 Lưỡi lê trên súng trường Type 56.

 

Một số lưỡi lê dành cho các biến thể của súng AK
– Lưỡi lê VZ-58
Cộng hòa Czech sản xuất để sử dụng trên súng trường tấn công VZ-58, một phiên bản của AK-47. Cán lê ban đầu được làm bằng gỗ nhưng vào đầu những năm 1960 đã được thay thế bằng chất liệu nhựa, trên cán lê có thể có hoặc không có đinh tán, khâu lê không có vòng khâu, lưỡi lê có 2 rãnh đối xứng nhau qua tim.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 286mm, chiều dài lưỡi 171mm.

 

 

 

 

 Lưỡi lê VZ-58.

 

– Lưỡi lê M1962
Phần Lan sản xuất để sử dụng trên súng trường tấn công RK-62, RK-71 và RK-76. Lưỡi lê được chuẩn hóa theo lưỡi lê VZ-58 của Czech với lưỡi dao không có rãnh và cán lê làm từ nhựa có các gân chống trượt với một chốt ấn khá lạ mắt được bố trí ở trên.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 267mm, chiều dài lưỡi 159mm.

 

 

 

 

 Lưỡi lê M1962 trên RK-62.

 

– Lưỡi lê G36
Đức sản xuất để sử dụng trên súng trường tấn công Heckler & Koch G36. Các lưỡi lê G36 được sản xuất vào năm 1996 bằng cách sử dụng lại các bộ phận từ lưỡi lê AKM Type II của Đông Đức còn dự thừa trong kho. Vòng khâu cũ được cắt bỏ và thay bằng vòng khâu mới có đường kính rộng hơn được hàn tại chỗ.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 270mm, chiều dài lưỡi 146mm,đường kính vòng khâu 22,1mm.

 

 

 

 

  Lưỡi lê G36 gắn trên súng.

 

Súng trường tấn công cỡ đạn 7,62mm NATO FN-FAL (Fabrique Nationale de Herstal – Fusil Automatique Leger) được sản xuất bởi FN vào năm 1953, sử dụng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới và đã trải qua 14 cuộc chiến tranh.

Nhiều quốc gia đã sản xuất FN-FAL theo giấy phép kèm theo cả lưỡi lê của nó, trong phạm vi bài viết Kiến Thức xin đề cập đến 3 loại lưỡi lê FAL Type A, Type B và Type C được thiết kế và sản xuất bởi FN tại Bỉ cùng series L1 được thiết kế tại Anh.

Lưỡi lê FAL

– Lưỡi lê FAL Type A

Thiết kế ban đầu của lưỡi lê FAL mang đầy tính sáng tạo. Khi phải đối mặt với những tác động bất lợi mà lưỡi lê có thể gây ra với độ chính xác của một khẩu súng trường tự động áp dụng công nghệ mới, các nhà thiết kế đã giới thiệu khái niệm “free-recoil” nơi một lò xo pít tông ẩn trong chuôi cho phép lưỡi lê “nổi” trong quá trình bắn liên thanh hoặc phát 1 tốc độ cao, qua đó giảm ảnh hưởng bất lợi của lưỡi lê đến độ chính xác khi bắn.

Pit tông lò xo trong chuôi lưỡi lê FAL Type A.

Trên khâu lê FAL Type A có ngạnh che lửa gắn chặt vào vòng khâu do những súng trường FN-FAL đời đầu được thiết kế không có loa che lửa. Phần lưỡi lê là một biến thể dựa trên lê M4 của Mỹ; cán lê có thể được làm bằng gỗ, nhựa hoặc thép; bao đựng được làm bằng thép theo chuẩn lưỡi lê FN Mauser được thiết kế và phát triển từ những năm 1920.

Vào đầu những năm 1960, NATO tiến hành chuẩn hóa súng bộ binh để có thể phóng lựu 22mm từ súng. Điều này đòi hỏi FN-FAL phải được trang bị bộ phận đầu nòng mới lớn hơn cho phép tiếp nhận và phóng được lựu đạn 22mm vì vậy những lưỡi lê FAL Type A trở nên lạc hậu và phải thay thế.

Súng FN-FAL với lưỡi lê Type A.

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 321mm, chiều dài lưỡi 200mm, đường kính vòng khâu 15,2mm.

– Lưỡi lê FAL Type B

Lưỡi lê FAL Type B được sử dụng trên súng trường FN-FAL trang bị loa che lửa dài kiểu Browning. Lưỡi lê FAL Type B có lưỡi ngắn hơn, vòng khâu lớn hơn và không có ngạnh che lửa.

Các súng trường FN-FAL trang bị loa che lửa dài kiểu Browning là không phổ biến và chỉ được sản xuất với số lượng nhỏ dẫn tới việc lưỡi lê FAL Type B không được phổ biến vào ngày nay.

– Lưỡi lê FAL Type C

Sau khi các nước NATO tiến hành chuẩn hóa súng bộ binh để có thể phóng lựu 22mm từ súng, các lưỡi lê FAL Type A sẽ không thể hoạt động được với súng có gắn loa che lửa lớn hơn. Mặc dù thiết kế của lưỡi lê mang đầy tính sáng tạo nhưng cũng rất phức tạp và tốn kém. Để thay thế, FN lựa chọn phương pháp đơn giản đó quay lại thời kỳ đầu với lưỡi lê cắm.

Ổ cắm của lưỡi lê FAL Type C gồm nhiều khe thẳng hàng, có tác dụng kết hợp với loa che lửa, ổ cắm lê có chiều dài gần bằng phần lưỡi, một lò xo đơn giản được bắt ở phía sau ổ cắm. Lưỡi lê có hình bán nguyệt, phẳng ở đầu và khum tròn ở cuối. Bao đựng lưỡi lê vào thời kỳ này được làm bằng thép hoặc nhựa có dây đeo không thể tách rời, được cố định lại bằng đinh tán.

Súng FN-FAL với lưỡi lê Type C.

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 286mm, chiều dài lưỡi 165mm, đường kính ổ cắm 22,6mm.

Lưỡi lê L1

Nước Anh đưa vào sử dụng phiên bản FN-FAL của riêng họ được định danh là L1A1 vào năm 1954 khi mà tình yêu của người lính dành cho lưỡi lê No.5 Mk.I dùng trên các loại súng đời cũ còn rất lớn, do đó người Anh quyết định chế tạo một loại lưỡi lê mới dựa trên mẫu này.

Lưỡi lê mới có phần lưỡi được chế tạo theo đúng khuôn mẫu của lưỡi lê No.5, No.7 và No.9 cũ, bao đựng của lưỡi lê No.5 Mk.I được phát triển trong thế chiến II tiếp tục được sử dụng cho series lưỡi lê L1 đến khi FN-FAL bị loại khỏi biên chế của quân đội Anh vào năm 1987.

Lưỡi lê L1 bao gồm các biến thể: 3 sản xuất tại Anh (L1A1, L1A3 và L1A4), 1 sản xuất tại Australia (L1A2), 1 sản xuất tại Canada (C1) và còn có thêm phiên bản (1A) sản xuất tại Ấn Độ. Lưỡi lê của Anh, Australia và Canada tương tự như nhau, chỉ khác nhau ở vài chi tiết rất nhỏ, lưỡi lê của Ấn Độ về cơ bản vẫn theo khuôn mẫu của Anh nhưng có cán bằng gỗ và lưỡi dài hơn.

– Lưỡi lê L1A1/A2

Lưỡi lê L1A1 của Anh tương tự như lưỡi lê L1A2 của Australia (ảnh trên), được sản xuất trong khoảng thời gian từ 1957-1984, chúng đều có phần chốt ấn nhô ra ở chuôi và khác nhau ở chỗ trong khi đầu mút phần rãnh dưới sống lưỡi dao L1A1 có dạng hình vuông thì ở L1A2 có dạng hình tròn. Thay đổi được cho là diễn ra vào năm 1960.

Lưỡi lê L1A1 trên súng.

Thông số cơ bản L1A1/L1A2: Tổng chiều dài 295/305mm, chiều dài lưỡi 197/203mm, đường kính vòng khâu 14,9/14,9mm.

– Lưỡi lê L1A3

Các lưỡi lê L1A3 được đưa vào sử dụng trong quân đội Anh từ cuối những năm 1950 để thay thế các chốt ấn nhô ra trên cán của lưỡi lê L1A1/L1A2 do trong quá trình sử dụng đã phát hiện ra rằng các chốt ấn nhô ra đó dễ làm cho lưỡi lê bị bật ra. Các chốt ấn mới đã được làm ngang bằng với bề mặt của cán lê.

Lưỡi lê L1A3 phiên bản rãnh ngắn.

Vào giữa những năm 1960 lưỡi lê L1A3 có một chút thay đổi với đường rãnh trên dao được rút ngắn do lo ngại rãnh quá dài sẽ làm suy yếu lưỡi dao, đi kèm với khâu lê mới đơn giản hơn không có phần “eo” trên thân

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 305mm, chiều dài lưỡi 203mm, đường kính vòng khâu 14,9mm.

– Lưỡi lê L1A4

Lưỡi lê kiểu L1A4 đã được chấp nhận từ cuối những năm 1950, tuy nhiên đã không được sản xuất cho đến những năm 1970. Lưỡi lê L1A4 sử dụng khâu lê đơn giản như trên phiên bản sau của lê L1A3 nhưng phần rãnh trên lưỡi lại được kéo dài như phiên bản đầu.

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 305mm, chiều dài lưỡi 203mm, đường kính vòng khâu 14,9mm.

– Biến thể lưỡi lê 1A được sản xuất tại Ấn Độ

Lưỡi lê 1A của Ấn Độ được sản xuất theo đúng nguyên mẫu lưỡi lê L1 của Anh nhưng có cán bằng gỗ và phần lưỡi dài hơn nhiều. Bao đựng lưỡi lê là bản sao thô loại bao No.5 của Anh nhưng dài hơn.

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 356mm, chiều dài lưỡi 254mm, đường kính vòng khâu 14,7mm.

Lưỡi lê M4

 

 

 

– Lưỡi lê M4 đợt sản xuất đầu tiên
Lưỡi lê dạng dao găm M4 được sử dụng trên súng carbine M1 của quân đội Mỹ. Ban đầu, súng M1 được thiết kế mà không có tai gắn lưỡi lê, phải đến tháng 6/1944, các súng carbine M1 mới được trang bị thêm tai gắn lưỡi lê (ảnh dưới).
Lưỡi lê M4 ban đầu có cán được bọc da đã qua xử lý nhiệt, lưỡi lê có dạng dao găm cơ bản được mài sắc sau khi đã trải qua quá trình photphat hóa. Bao đựng lưỡi lê ban đầu là loại M8 không có chóp kim loại, sau đó được cải tiến thành M8A1 với việc bổ sung một dây đeo.

 

 Lưỡi lê M4 trên súng carbine M1.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 295mm, chiều dài lưỡi 171mm, đường kính vòng khâu 15mm.
Lưỡi lê M4 đời đầu có 2 phiên bản khác với cán làm bằng cao su cứng và cán bằng gỗ, đây là vật liệu được cho là có thể chống chịu tốt hơn thời tiết khắc nghiệt tại chiến trường Thái Bình Dương. Thay đổi được cho là xảy ra vào khoảng thời gian cuối những năm 1940 hoặc đầu những năm 1950 trên đảo Okinawa. Một số lưỡi lê loại này được thấy xuất hiện trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.
Thông số cơ bản (cán cao su cứng/cán gỗ): Tổng chiều dài 292/289mm, chiều dài lưỡi 165/165mm, đường kính vòng khâu 15/14,6mm.

 

 Lưỡi lê M4 có cán bằng cao su cứng.

 

 

 Lưỡi lê M4 có cán bằng gỗ.

 

– Lưỡi lê M4 đợt sản xuất thứ 2
Đây là kết quả của những cải tiến được thực hiện qua chiến tranh để khắc phục những thiếu sót ban đầu. Khác biệt lớn nhất là cán được làm bằng nhựa 2 mảnh, ghép lại với nhau bằng vít và phần khâu lê rộng hơn các phiên bản trước. Bao đựng lưỡi lê vẫn là loại M8A1 nhưng được bổ sung chóp kim loại ở đầu. Một số lượng rất lớn lưỡi lê M4 loại này đã được sử dụng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

 

 Lưỡi lê M4 đợt sản xuất thứ 2.

 

Bên cạnh lưỡi lê được sản xuất vì mục đích quân sự, trong thời kỳ này còn có xuất hiện phiên bản thương mại với cán làm bằng nhôm được sơn đen.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 298mm, chiều dài lưỡi 171mm, đường kính vòng khâu 15mm.
– Lưỡi lê M4 sản xuất tại Hy Lạp
Hy Lạp được Mỹ cho vay một lượng súng carbin M1 trong thập niên 1950, theo đó đã có một phiên bản khác của lưỡi lê M4 được sản xuất tại chỗ cho những khẩu súng này. Lê M4 của Hy Lạp có lưỡi được mạ đồng, phủ ngoài một lớp sơn màu đen. Cán được bọc da giống như những lưỡi lê M4 phiên bản đầu nhưng có phần chuôi lớn hơn hẳn.

 

 

 

– Lưỡi lê M4 sản xuất tại Hà Lan
Hà Lan được Mỹ cung cấp một lượng súng carbin M1 sau khi chiến tranh thế giới 2 kết thúc. Lê M4 sản xuất tại Hà Lan được chuẩn hóa theo nguyên mẫu của Mỹ nhưng là một thiết kế khác. Cán lê làm bằng nhựa phenolic đỏ trên đó có các rãnh chống trượt, được liên kết bằng ốc vít, phần khâu lê nặng hơn phiên bản gốc rất nhiều do có độ dày lớn hơn. Các lưỡi lê sản xuất tại Hà Lan và Hy Lạp đều sử dụng bao đựng loại M8A1.

 

 

 

Thông số cơ bản (sản xuất tại Hy Lạp/Hà Lan): Tổng chiều dài 295/292mm, chiều dài lưỡi 171/168mm, đường kính vòng khâu 15,0/15,1mm.
Ngoài ra còn có phiên bản lê M4 do Hàn Quốc sản xuất theo nguyên mẫu lê M4 của đợt sản xuất thứ 2.
Lưỡi lê M5
Lưỡi lê M5 được sử dụng trên súng trường tấn công M1 Garand. M5 được giới thiệu lần đầu vào năm 1953 để thay thế cho lê M1 và M1905E1 trên súng trường M1. M5 sử dụng lại phần lưỡi của lê M4 kết hợp với phần cán bằng nhựa được thiết kế mới, ở vị trí vòng khâu là một chốt thép để gài vào vít khóa xi lanh trích khí của súng trường M1. Lưỡi lê M5 sử dụng cùng loại bao đựng M8A1 như lưỡi lê M4.

 

 

 

 

 Lưỡi lê M5 trên súng trường M1 Garand.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 289mm, chiều dài lưỡi 168mm.
Lưỡi lê M6
Lưỡi lê M6 được sử dụng trên súng trường M-14 cỡ 7,62mm của Mỹ, được giới thiệu vào năm 1958 để khắc phục những hạn chế của súng trường M1. Lưỡi lê M6 tương tự như lưỡi lê M5 chỉ khác ở chỗ khâu lê có vòng khâu thay vị trí của chốt gài.

 

 

 

 

 Lưỡi lê M6 trên súng trường M-14.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 289mm, chiều dài lưỡi 171mm, đường kính vòng khâu 18,4mm.
Lưỡi lê M7

 

 

 

 

 Lưỡi lê M7 trên súng trường M-16A1.

 

Lưỡi lê M7 được sử dụng trên súng trường tấn công M-16 cũng như các súng trường tấn công khác dùng cỡ đạn 5,56mm NATO. Lưỡi lê M7 có hình dáng rất giống lưỡi lê M4 dùng trên súng carbin M1 trong Chiến tranh thế giới 2 do ban đầu được chế tác lại từ những lưỡi lê còn tồn kho. Bao đựng của lưỡi lê M7 khác với loại M8A1 ở chỗ không có chóp kim loại.
Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 302mm, chiều dài lưỡi 171mm, đường kính vòng khâu 22,4mm.
Các phiên bản lưỡi lê M7 được sản xuất tại các quốc gia khác:

 

 Lưỡi lê M7 sản xuất tại Australia cho súng Steyr AUG với phần cán ngắn hơn 10cm.

 

 

 Lưỡi lê T65 (phiên bản M7 sản xuất tại Panama) với lưỡi dao dài 206mm.

 

Lưỡi lê M9
Lưỡi lê đa năng M9 được đưa vào sử dụng năm 1986 và hiện đang là lưỡi lê tiêu chuẩn của quân đội Mỹ. Lưỡi lê M9 là một thiết kế mới hoàn toàn, được đánh giá là tinh tế và thuận tiện khi sử dụng hơn nhiều so với các loại lưỡi lê cũ. Dây đeo được phát triển bởi Bianchi và được buộc/tháo thông qua một kết nối Fastex.

 

 

 

 Lưỡi lê M9 trên súng carbin M-4.

 

Thông số cơ bản: Tổng chiều dài 308mm, chiều dài lưỡi 181mm, đường kính vòng khâu 22,4mm.
Dương Phạm
Tagged

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*